hoa 20 11 6

Lớp hình tượng có tính chất cuộc sống trong một số bài thơ mới giảng dạy ở chương trình THPT

Thứ ba - 17/11/2015 21:21
Trong hơn hai thập kỷ trở lại đây, việc đổi mới phương pháp
giảng dạy đã trở nên một thực tiễn to lớn, sinh động vô cùng. Cũng như nhiều bộ môn khoa học khác, người Thầy giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường trung học phổ thông luôn trăn trở với phương pháp giảng dạy sao cho có hiệu quả, mang lại cho các em học sinh những hiểu biết về văn hóa, nghệ thuật ngôn từ của dân tộc mình, về bản sắc văn hóa người Việt trong mỗi tác phẩm văn chương; cho dù tác phẩm văn học ấy, có ảnh hưởng, tiếp thu văn hóa của nước ngoài nó vẫn giữ được nét đẹp văn hóa truyền thống. Ai cũng phải thừa nhận một điều rằng: đến với tác phẩm văn chương chúng ta như được tắm mát tâm hồn trong dòng suối ban mai, gội rửa những bụi bặm của đời sống thường nhật, để rồi chúng ta trở về với những nhịp đập thổn thức của con tim đầy chất nhân văn, nhân ái giữa cuộc sống bộn bề của nền kinh tế thị trường. Và nói đến thơ hiện đại Việt Nam, chúng ta quên sao được phong trào Thơ Mới.
                Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Đảng ta có nhiều nhận thức mới mẻ, trong đó có tư duy đổi mới về văn học nghệ thuật. Bỡi vậy, văn học lãng mạn đã được Bộ Giáo dục- Đào tạo chính thức đưa vào chương trình học ở Trung học phổ thông . Điều đó, góp phần làm cho chương trình Ngữ văn càng được phong phú hơn, giá trị nhân văn và nhân bản cũng được đề cao.
          Văn học lãng mạn bao gồm có Thơ Mới và Tự lực văn đoàn. Trong đó phải kể đến Thơ Mới đã đem đến cho người đọc, người dạy và người học những rung động tinh tế cùng xúc cảm thẫm mĩ mạnh mẽ trên cơ sở kế thừa và phát huy những tinh hoa của văn hóa truyền thống, có ảnh hưởng những giá trị thẫm mĩ của phương Tây.     
             Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945) là tiếng nói của cá nhân tràn đầy cảm xúc, đồng thời phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng, ước mơ. Dòng văn học này coi con người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định cái tôi cá nhân, đề cao con người thế tục, quan tâm đến những số phận cá nhân và những quan hệ riêng tư. Văn học lãng mạn góp phần quan trọng vào việc thức tỉnh ý thức cá nhân, đấu tranh chống luân lí, lễ giáo phong kiến cổ hủ, để giải phóng cá nhân, giành quyền hưởng hạnh phúc cá nhân, lĩnh vực tình yêu, hôn nhân và gia đình. Đặc biệt những vần Thơ Mới góp phần làm cho tâm hồn người đọc thêm tinh tế và phong phú, giúp cho con người thêm yêu thương mảnh đất quê hương, quý trọng tiếng mẹ đẻ, tự hào về nền văn hóa lâu đời của dân tộc và biết buồn đau, tủi nhục trước nước mất. Tác giả Lửa thiêng khẳng định: “Trong lịch sử văn học Việt Nam, phong trào Thơ Mới giữ một vị trí quan trọng. Thơ Mới đã nằm trong văn mạch của dân tộc như máu thịt trong cơ thể của giống nòi”
          Theo tác giả Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Thơ Mới xuất hiện từ “cái ngày người lái buôn thứ nhất đặt chân lên đất nước ta thì cái mầm của Thơ Mới đã bắt đầu xuất hiện”. Thơ Mới là một phong trào cách tân thơ vào những năm 1932-1942, việc cách tân thơ là đòi hỏi của cả xã hội Việt Nam lúc đó, xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến đang chuyển biến khá mạnh sau đại chiến thế giới thứ nhất. Các tầng lớp xã hội , đặc biệt là trí thức thanh niên các thành thị, và cả thanh niên có ít nhiều học vấn ở nông thôn đòi hỏi thơ nói được khát vọng tâm hồn của họ, cái khát vọng thoát ra ngoài khuôn sáo tù túng theo lề lối phong kiến. Trong lúc thơ cũ đã gần như khô nhựa trong luồng ngâm vịnh sáo mòn, Thơ Mới xuất hiện với sức sáng tạo dồi dào của nhiều cây bút tài năng, đặc biệt là tầng lớp trí thức Tây học. Thơ Mới đề cao tình cảm cá nhân không những chống lại hệ ý thức phong kiến phi nhân đạo mà còn chống lại tình trạng giả dối, vụ lợi của xã hội tư sản. Nó đã đem lại cho thi ca trên văn đàn công khai một sinh khí mới giữa lúc thơ cũ đang chết khô trong xiềng xích của niêm luật. Chưa bao giờ trong văn thơ ta, trái tim được khai thác triệt để như vậy. Tình yêu được đề cao, trân trọng, thắm thiết và cũng không ít những bài thơ tình hay trong sáng. Những thi sĩ Thơ Mới hầu hết thuộc tầng lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản nghèo, thường đau khổ với thân phận nô lệ và ít nhiều đều mang một tâm sự yêu nước thầm kín. Trong Thơ Mới bàng bạc nỗi ấm ức nghẹn ngào của người dân mất nước, có lúc bộc lộ bóng gió qua hình tượng như lời con hổ “ Nhớ rừng”, qua tiếng khóc thương Điêu tàn đối với nước Chàm đã bị tiêu vong của Chế Lan Viên, lại có những nhà thơ có cảm quan vũ trụ sâu sắc mà vẫn nặng lòng với đời, ...Có thể nói mỗi hình tượng trong Thơ Mới rất gần gũi với cuộc sống là sự gởi gắm tâm sự của tác giả
       Phong trào thơ Mới đã đóng góp nhiều về nghệ thuật thơ, đã đổi mới sự biểu hiện cảm xúc mạnh về cuộc sống, về con người, về thiên nhiên, về vạn vật. Thơ Mới đã trau dồi tiếng Việt, làm cho ngôn ngữ thơ Việt Nam uyển chuyển và hiện đại, biểu hiện được tất cả các màu sắc tâm hồn của người Việt Nam ở thời kỳ này, tuy nhiên “ Hồn xưa đất nước” vẫn bàng bạc trên mỗi trang thơ. Tiêu biểu qua một số bài thơ của các tác giả như Huy Cận, Nguyễn Bính, Anh Thơ,...
 
                Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy Cận, được viết vào mùa thu năm 1939 ( in trong tập Lửa thiêng), cảm xúc được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước. Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ hiện lên đậm màu sắc cổ điển với sóng nước, con thuyền, cồn nhỏ đìu hiu, bến cô liêu:
     “ Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
      Con thuyền xuôi mái nước song song,
      Thuyền về nước lại sầu trăm ngả;
      Củi một cành khô lạc mấy dòng.
 
       Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
       Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
       Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
       Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
 
        Bèo dạt về đâu hàng nối hàng;
        Mênh mông không một chuyến đò ngang.
        Không cầu gợi chút niềm thân mật,
        Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
        Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
        Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
        Lòng quê dợn dợn vời con nước,
        Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
      Ở đây có núi, mây hùng vĩ ( mây đùn thành núi bạc) phía trời tây, lại có cánh chim chiều hút nắng lúc hoàng hôn đang sa xuống tận cuối trời xa, đó là những thi liệu quen thuộc của thơ cổ điển phương đông. Tuy vậy, bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang vẫn gần gũi, thân thuộc với mọi tấm lòng Việt Nam. Ta nhận ra đó là một con sông quê hương đất nước với cành củi khô lạc dòng, với “ tiếng làng xa vãn chợ chiều”, cả những cụm bèo trôi dạt trên sông “ hàng nối hàng” và nhất là cảnh bờ bãi ven sông đúng là của Việt Nam, không thể nào lẫn được “ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”. Hình ảnh tuy đã được khái quát, mang ý nghĩa tượng trưng ( một con sông buồn), không còn là một con sông cụ thể nữa, nhưng nó vẫn rất thực và cụ thể, mang hình bóng con sông của xứ sở, thân thuộc với mọi tấm lòng Việt Nam. Viết về con sông buồn, trước hết Huy Cận bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, nhưng đó là nỗi sầu, cô đơn thấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha của tác giả. Trước tràng giang dập dềnh sóng nước, trước con sông mênh mông “Không một chuyến đò ngang”, nhà thơ thấy rõ cái cô đơn gần như tuyệt đối của mình trước vũ trụ bao la vô cùng, vô tận, từ đó mà cảm nhận sâu sắc thân phận của một thi nhân mất nước trong cảnh đời nô lệ lúc bấy giờ “ Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Đâu chỉ là cành củi khô lạc dòng, cụm bèo trôi sông, mà đấy chính là thân phận của những cuộc đời trôi nổi, chưa định được hướng đi trong xã hội cũ. Từ những hình ảnh quen thuộc của cuộc sống thế gian, một cành củi khô, cồn nhỏ lơ thơ, con thuyền nhỏ, cánh chim,...đã hắt vào tác phẩm vẻ tử biệt sinh li, vẻ sầu bi của nó. Chỉ vài nét chấm phá thôi, Huy Cận đã khơi gợi cảm giác lẻ loi, chia li trong lòng người, trong cảnh vật. Đó cũng là tâm lí tự nhiên của con người, cảm thấy nhỏ bé trước thiên địa vô thủy vô chung. Bức tranh thiên nhiên cũng chính là bức tranh tâm trạng của thi sĩ. Và khi đã thấu hiểu, thấm thía cái thân phận thi nhân mất nước ấy thì cũng có nghĩa là lòng yêu nước của Huy Cận vẫn còn đầy ắp trong tim, giờ đây được bộc lộ thầm kín và thiết tha qua những hình ảnh thơ hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.
                   Anh Thơ là nhà Thơ Mới giai đoạn 1932-1941, bà có sở trường viết về cảnh sắc nông thôn, gợi được không khí và nhịp sống đồng quê miền Bắc nước ta. Thơ của bà thiên về tả cảnh, toàn những cảnh bình dị, quen thuộc ở làng quê, trong đó có một số bài đi vào lòng độc giả bỡi những nét chân thực, tinh tế, thấm đượm một tình quê đằm thắm, mượt mà với giọng thơ êm ái, bâng khuâng. Cùng viết về cảnh sắc nông thôn lúc đó có Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân,...nhưng những bức tranh thơ của bà vẫn có nét riêng, không lẫn được. Bức tranh Chiều xuân mang không khí thanh bình, có phần lặng lẽ với nhịp sống êm ả, ít xáo động ở nông thôn:
          “ Mưa đổ bụi, êm êm trên bến vắng,
           Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
          Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
          Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
  
         Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
         Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;
         Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
         Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
 
         Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,
         Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra,
        Làm giật mình một cô nàng yếm thắm
        Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.”      
      Một bức tranh tĩnh lặng, dường như không có tiếng động, rất ít chuyển động. Bến vắng, “Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi”,
“ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng”. Vắng lặng được nhắc đến ba lần  trong bài thơ nói lên khá rõ cái không khí lặng lẽ và nhịp sống ít xao động đó. Đến cả cái động duy nhất ở cuối bài thơ “ Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra, làm giật mình một cô nàng yếm thắm” thì cũng chỉ để làm nổi bật cái tĩnh của bức tranh thơ. Nhịp sống đó còn được cảm nhận qua bức tranh thiên nhiên của chiều xuân: mưa đổ bụi êm êm, cánh bướm rập rờn trôi trước gió và cả những trâu bò thong thả cúi ăn mưa. Có thể nói nữ sĩ đã cảm nhận được khá sâu sắc và thể hiện một cách tinh tế trong bài thơ về cảnh sắc đồng bằng Bắc bộ  mang nét riêng của mình.
 
             Nguyễn Bính là nhà thơ mới giai đoạn 1932-1941 có hướng đi riêng cho mình.Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Tương tư là bài thơ trích trong tập thơ Lỡ bước sang ngang ( 1940), rất tiêu biểu cho phong cách thơ “ chân quê” của thi sĩ. Tương tư là nỗi niềm u uẩn do thầm yêu trộm nhớ của trai gái. Đây là một đề tài rất phong phú trong kho tàng văn học dân gian. Nỗi niềm tương tư của Nguyễn Bính được thể hiện với những săc thái tình cảm muôn thuở của chuyện tương tư: có nhớ nhung, có trách móc, dĩ nhiên có cả mong chờ. Tương tư ở đây chưa đến độ cháy bỏng, mãnh liệt như trong thơ Xuân Diệu nhưng thật thiết tha, chân thành:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Nắng mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
            Nắng mưa là căn bệnh của thiên nhiên, nhớ mong là căn bệnh như một qui luật tất yếu của những người đang yêu, dường như có mặt trên thế gian này là để thầm yêu trộm nhớ. Niềm mong chờ tha thiết đáng được trân trọng ấy đã được thể hiện một cách mới mẻ. Trước hết, là cái tôi tha thiết, có nhu cầu phơi trải, được thi sĩ diễn tả một cách trực diện. Sau nữa, tác giả đã đưa vào thơ lời ăn tiếng nói của người nhà quê trong cuộc sống thường nhật, nó xuất hiện tự nhiên , mộc mạc, đưa vào thơ lời ăn, tiếng nói của đời thường:
“Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này? ”
Như vậy nội dung tương tư cổ điển được thi sĩ thể hiện bằng một lối nói hiện đại, ít nhiều mang dấu ấn của thời đại. Bài thơ không chỉ diễn tả được khá mới mẻ cái tôi tha thiết chân thành, khao khát yêu đương mà còn ở chỗ gợi lên được “ hồn xưa đất nước” ( Hoài Thanh). Vốn sinh ra ở một nước nông nghiệp cho dù đã dan díu với kinh thành, mấy ai không có trong mình kỷ niệm về một làng quê Việt Nam truyền thống. Trong khi các nhà thơ cùng thời chịu ảnh hưởng mạnh mẽ thơ phương Tây thì Nguyễn Bính gắn bó thiết tha với điệu thơ dân tộc, với làng quê Việt Nam thân thuộc. Tương tư được coi như là sự kết nối của một hệ thống hình ảnh gần như đã trở thành ước lệ đối với làng quê Việt Nam. Ở đó có thôn Đoài và thôn Đông, có con đò và bến nước, có hàng cau và giàn giầu. Ở đó còn là lối nuôi dưỡng và sinh thành lối thơ lục bát. Tác giả sử dụng nhuần nhuyễn lối thơ này với cách ví von mộc mạc với những ẩn dụ bến –đò, hoa-bướm, giầu-cau. Hình ảnh lối thơ truyền thống, lối ví von ấy đã đánh thức con người nhà quê mà lâu nay vẫn thường ẩn náu trong lòng độc giả, làm cho họ bồi hồi, xao xuyến về một làng quê vừa thiêng liêng, vừa gần gũi, nói rộng ra là về một đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Hồn xưa đất nước còn được thể hiện ngay trong lối suy nghĩ gắn chặt với đất trời, cỏ cây quê hương. Tháng năm trôi qua được ông cha ta nhận thấy bằng sự đổi thay của cây lá:
“Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.”
             Và nhân vật chàng thanh niên trong bài thơ này cũng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để suy nghĩ, thương nhớ “ Nắng mưa là bệnh của giời. Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Do sống hòa hợp, tắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên, trai gái quê ta ngày xưa không chỉ một lần mượn sen-hồ, mận –đào để giải bày tình cảm vừa kín đáo, vừa duyên dáng:
                 “Bây giờ mận mới hỏi đào
            Vườn hồng có lối ai vào hay chưa?
                 Mận hỏi thì đào xin thưa:
            Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào”
        Hồn quê hương đất nước được toát lên từ cách thể hiện tình cảm mộc mạc, kín đáo của tác giả. Nhà thơ chuyển từ lối diễn đạt trực tiếp sang lối diễn đạt gián tiếp, thật tinh tế, phản phất hương vị của ca dao thuần khiết. Ông đã mượn hình ảnh hàng cau liên phòng, giàn giầu không để nói tình yêu lứa đôi. Có lẽ vì thế mà, bài thơ của thi sĩ mộc mạc, chân quê, đậm đà màu sắc ca dao, trở nên gần gũi với tình cảm với những người quanh năm sống trong lũy tre làng, gắn bó cuộc đời cùng đồng ruộng. Trong phong trào thơ mới, nhiều người vẽ được những bức tranh quê tươi đẹp, nhưng chỉ có Nguyễn Bính nói được cái hồn quê. Đấy là sự đóng góp độc đáo của nhà thơ trong bài thơ Tương tư.          
                Thơ lãng mạn là một bước phát triển có ý nghĩa của thơ ca dân tộc. Trên lĩnh vực nghệ thuật, Thơ Mới đã tiến hành một cuộc cách tân thơ chưa từng có trước đó, tạo nên một thời đại mới, thi pháp mới cho thơ ca tiếng Việt. Thơ lãng mạn đã tích cực tiếp nhận tinh hoa của thơ ca phương Tây để hiện đại hóa thơ mấy thế kỷ Trung đại. Cha ông ta đã làm hết sức mình để hội nhập thơ Việt. Trong một khoảng thời gian ngắn, các nhà thơ lãng mạn đã đưa con thuyền thơ nước Việt hòa nhập vào dòng sông của thế giớ hiện đại, họ đã vứt bỏ những luật lệ gò bó, những khuôn phép của thơ cổ, tích cực tìm cho thơ những nghệ thuật mới, phù hợp với những xúc cảm, cảm giác của cái tôi-trữ tình. Tiếp nhận, ảnh hưởng phương Tây, Thơ lãng mạn đã hoàn thiện, cách tân nhiều thể thơ truyền thống, nhưng thơ lãng mạn vẫn là ngôn ngữ xanh tươi của cuộc sống thường nhật, thấm đẫm giá trị nhân văn và bản sắc của con người Việt Nam sau lũy tre làng.
                                                                                                                                                                  

Tác giả bài viết: Ngọc Tuyết

Nguồn tin: Tổ Văn-Sử-Công dân

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Cơ sở vật chất

        

ketquahoctap 1
logo thtt hstc

Nhập email đăng ký nhận tin mới ở đây

screen 0
1553133118 nls
left
right
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây